Gặp gỡ các nữ đại biểu đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh – Phần 2

Không đúng như vậy. Lượng khách đến tăng 30% nhưng số đơn vị kinh doanh du lịch lại tăng với tỷ lệ nhiều hơn. So với năm 1994, mức thu nhập của các công ty kinh doanh giảm 10%. Thời vàng son của ngành du lịch trong nước – từ năm 1992 đến năm 1994 – đã qua rồi. Nay thì các công ty du lịch nước ngoài cạnh tranh rất quyết liệt với công ty nội địa, từ việc giảm giá tour, mời chào, bán tour từ nước ngoài với đặc điểm là nguồn khách của họ rất ổn định. Họ lại giảm giá phòng, giá vé máy bay, cho ăn huê hồng tiêu thụ vé, giảm giá trong nhà hàng… nên tính ra mức giảm giá của họ khá lớn, đầy hiệu quả. Trong khi đó, các công ty du lịch quốc tế của Việt Nam thì còn nhiều điều không thuận lợi: lượng khách không ổn định, giá vé máy bay giữa người Việt Nam và nước ngoài chênh lệch 180USD/ vé, huê hồng không cao… Chắc chắn là trong hai năm 1996 – 1997, các công ty du lịch của Việt Nam sẽ gặp không ít khó khăn. Theo bà, nhà nước nên có biện pháp gì để “cứu giúp” các đơn vị kinh doanh nội địa trong tình trạng cung đã vượt quá cầu như bà nói? Sau cuộc khảo sát và phân loại các khách sạn vừa qua, chúng tôi sẽ khuyến cáo những khách sạn chưa đạt tiêu chuẩn phải nâng cấp để tạo tiện nghi, phong phú trong hoạt động phục vụ. Chúng tôi cũng đang mở khóa huấn luyện trong vòng 20 ngày để giúp các nhà kinh doanh du lịch hiểu đầy đủ về hoạt động du lịch hiện nay. Chúng tôi đang đề nghị ủy ban nhân dân thành phố tạm thời ngưng hoạt động cho thuê nhà để chấn chỉnh, song chưa được chấp thuận. Theo lịch trình từ tháng 1/1996 đến tháng 6/1996, chúng tôi đề nghị không cấp phép hoạt động cho thuê nhà từ 10 phòng trở xuống, từ tháng 7 đến tháng 12/1996 không cấp phép từ 20 phòng trở xuống. Theo tôi, các chủ kinh doanh nên liên doanh với nhau, tiếp thị, điều hành tốt hơn mới có thể tăng năng suất hoạt động. Bà nghĩ sao về sức hấp dẫn của ngành “công nghiệp không khói” của đất nước? Không mạnh lắm. Bởi sự chăm chút của nhà nước chẳng là bao, nói đúng hơn là chẳng thấm vào đâu. Từ Bắc trở vào có vịnh Hạ Long, Hoa Lư, đền Hùng, bãi biển Đồ Sơn, các đền chùa cổ kính ở Hà Nội, sông Hương núi Ngự, Ngũ Hành Sơn… Nhưng đến Sài Gòn thì đâu có gì: Chúng ta không tạo được một “hòn ngọc viễn đông” như tên gọi. Nhiều khung cảnh miền Nam tươi đẹp đã không được tôn tạo làm nơi chiêm ngưỡng của khách nước ngoài. Bà sẽ có nhiều ý kiến ở đại hội đảng bộ thành phố lần này? Trước hết là xin cho sở chúng tôi được xây dựng một trường trung cấp đào tạo nhân viên phục vụ khách sạn và du lịch bởi vì hiện nay thành phố Hồ Chí Minh có số lượng khách chiếm 60% – 70% của cả nước. Hoạt động du lịch tốt sẽ giải quyết công ăn việc làm của nhiều người trên địa bàn thành phố. Một khách sạn có 400 phòng thì cần đến khoảng 1000 lao động, mà lại không mất nhiều công sức đào tạo. Họ có thể vừa làm vừ học trong khoảng 3 năm. Còn nhiều đề nghị khác nữa, như đầu tư xây dựng khu chim cá hoa kiểng Tao Đàn hoạt động thường xuyên, nâng cấp Thảo Cầm Viên, xây dựng làng Disneyland ở Long Phước (Thủ Đức)… Nhất là “làm sạch hóa” các khu du lịch điểm, như khu vực Nguyễn Huệ – Hàm Nghi – Lê Thánh Tôn… hiện nay có quá nhiều tệ nạn cướp giựt, ăn xin, đĩ điếm, người buôn bán nài nỉ, níu kéo khách… Tôi còn sẽ đề nghị cho phép xe chở khách du lịch nước ngoài trên 50 chỗ ngồi được vào thành phố trong cả giờ cao điểm, kể cả việc quy hoạch xây dựng khách sạn ở ngoại thành chứ không cho vào trung tâm thành phố để ngăn ngừa nạn kẹt xe… Biện pháp “sạch hóa” này rất hay. Bà định bao giờ thực hiện? Chúng tôi đang phối hợp với các cơ quan chức năng để tiến hành trong khu vực quận 1 trước trong năm 1996 – 1997. Sau đó sẽ tiến hành theo “vết dầu loang”. Chúng tôi đang nhờ Thái Lan giúp tư liệu để thành lập đội cảnh sát du lịch.
Bích Vi – Hội Liên Hiệp Phụ Nữ TP. Hồ Chí Minh – Số 35 – 1996

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *