Hội nghị khoa học về xây dựng thành phố Hồ Chí Minh năm 2000

Quy hoạch chậm – phá vỡ các ý đồ chiến lược. Kiến trúc sư Lê Quang Ninh, chủ nhiệm chương trình “Bảo tồn cảnh quan kiến trúc đô thị” cho biết, chương trình này chỉ mới bắt đầu từ giữa năm 1993, đã qua các bước: sưu tầm tư liệu, hội thảo về sự hình thành và phát triển thành phố Hồ Chí Minh, hoàn tất giai đoạn khảo sát hiện trạng cảnh quan kiến trúc của Sài Gòn xưa, phố cổ Chợ Lớn, khu dinh thự, khu biệt thự và đang đi vào giai đoạn II là lập dự án tiền khả thi. Ông nhấn mạnh, dự án bảo tồn khả thi càng chậm hoàn tất, triển khai thì cảnh quan kiến trúc đáng bảo tồn càng bị xâm phạm. Thực vậy, ngay từ cuối năm 1992, các dự án quy hoạch chi tiết mặt bằng quận huyện đã lần lượt được ủy ban nhân dân thành phố duyệt, và tháng giêng 1993, thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng thành phố Hồ Chí Minh. Và quan trọng hơn hết, nhiều giấy phép đầu tư xây dựng công trình liên doanh đã được cấp phép từ năm 1989. Trong đó, có 54 giấy phép đầu tư trị giá 2,25 tỷ USD (trong tổng số 6 tỷ USD toàn thành phố Hồ Chí Minh) tập trung vào khu vực trung tâm (quận 1, quận 3) – nơi mà kiến trúc sư Ninh cho rằng có nhiều cảnh quan kiến trúc cần được bảo tồn nhất. Chính vì vậy, chuyện xâm phạm cảnh quan của trụ sở ủy ban nhân dân thành phố như toàn nhà PDD là hậu quả đương nhiên! Và hậu quả này cũng chưa kết thúc: trong số 54 giấy phép xây dựng công trình liên doanh, có hai công trình phải phá bỏ các kiến trúc kiểu Pháp là Bệnh viện cấp cứu Sài Gòn và các khu vực chợ Bến Thành. Nhiều dự án liên doanh xây cao ốc chợ Bến Thành đã được thương thảo từ vài năm qua, như vậy liệu cái tháp đồng hồ từng là biểu tượng của Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh – nếu vẫn được giữ lại – sẽ có ý nghĩa về cảnh quan bên cạnh một khối kiến trúc sừng sững? “Điều kiện cần” của mọi đề án quy hoạch: trình độ quản lý đô thị. Trong bản báo cáo “chuyển giao công nghệ mới về kỹ thuật đô thị” rất được cử tọa tán thưởng. Thạc sĩ Bùi Đức Tiễn cho rằng: phải định ra được nhiệm vụ đô thị là gì trước khi quy hoạch nó. Người ta thường nói “đường nào cũng dẫn đến La Mã” còn là vì các hoàng đế La Mã đã quy hoạch đô thị theo hình sao, tất cả con đường đều quy về khu trung tâm là cung điện nhà vua. Nhiệm vụ của thành Roma lúc bấy giờ là biểu thị quyền uy của đế quốc, nặng phần chính trị hơn kinh tế. Đến thời tư bản, nhiệm vụ của thành phố là cơ sở thúc đẩy kinh tế nên đô thị có hình vuông ô cờ, không có đường nào chính, mục đích tạo sự giao thương thuận tiện. Và đến thời hiện tại, do sự gia tăng mật độ dân số nội thị, người ta phải quy hoạch đô thị theo không gian 3 chiều, ngoài các trục đường ô cờ, còn có đường tầng và đường hầm. Theo đó, mạng đường hợp lý nhất vẫn là “luật 7 cấp đường (7V) trong nội thị”. V1 là mạch giao thông chính, là quốc lộ xuyên qua đô thị, phải thẳng, rộng, nhiều làn xe cao tốc. V2 là đường song song hỗ trợ cho đường V1, thẳng, rộng và cao tốc. V3 là đường phân tán, thẳng góc nhưng khác cao độ với V1, V2 và cũng là đường cao tốc. Tất cả 3 đường V1, V2, V3 đều không có vỉa hè, phố xá ở hai bên. V4 là đường phố đô thị, rộng và có hè rộng, hai bên là phố, chợ, dịch vụ – nơi diễn ra cuộc sống đô thị, xe chạy với tốc độ chậm, chủ yếu là xe buýt, xe tiếp phẩm, xe con.
V5 là đường dẫn đến các khu dân cư, xuất phát từ V4. V6 là đường dẫn đến từng căn hộ, xuất phát từ V5. V7 là đường văn hóa, nối khu dân cư đến khu văn hóa, thể thao, du lịch… Nhìn lại Việt Nam, các vua chúa Việt Nam đã quy hoạch kinh đô Thăng Long, Huế theo thuật “phong thủy” (bên trái có sông lớn, bên phải có đường lớn, phía trước có hồ ao, phía sau có đồi núi), nên cả Hà Nội, Huế lẫn các tỉnh lỵ khác đều không có quốc lộ đi xuyên qua, mà phải đi chệch theo một bên. Tình trạng này hiện nay không còn phù hợp nữa. Thế mà trong tất cả các bản quy hoạch cho thành phố Hồ Chí Minh, đã không có một con đường huyết mạch nào được thiết kế xuyên qua thành phố – như yêu cầu phải có của một đô thị hiện đại. Một khía cạnh cốt lõi khác, là nhiệm vụ chính trị của đô thị thành phố Hồ Chí Minh đã không được đề cập trong quy hoạch tổng mặt bằng năm 1993, cho nên, việc quy hoạch các phân khu chức năng của thành phố cũng rất “hỗn canh hỗn cư”. Chỗ nào, quận nào cũng có thương mại dịch vụ xe lẫn khu hành chánh, bệnh viện, trường học, cơ sở tôn giáo, khu văn hóa. Theo ông Tiễn, các đô thị lớn hiện nay thông thường xây dựng mẫu ô phố rộng 400m x 400m (bao quanh là đường V1 – V2 – V3 và bên trong là V4 – V7), khép kín mọi sinh hoạt hàng ngày để hạn chế sự đi lại. Trong bản đồ án khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, kiến trúc sư Phan Đăng Tài đã đề xuất bốn phân khu chức năng: khu vực 1 (giới hạn bởi Nguyễn Thái Học – Lê Thánh Tôn – Tôn Đức Thắng) là khu tài chính – thương mại – dịch vụ – du lịch. Khu vực 2 (Lê Thánh Tôn – Cách mạng tháng 8 – rạch Thị Nghè – Nguyễn Thị Minh Khai) là khu hành chánh – văn hóa – công trình công cộng. Khu vực 3 (Nguyễn Thị Minh Khai – Cách mạng tháng 8 – Điện Biên Phủ – rạch Thị Nghè) là khu ngoại giao – viện nghiên cứu – biệt thự. Khu vực 4 ( Nguyễn Thái Học – rạch Bến Nghé – Nguyễn Văn Cừ – Nguyễn Thị Minh Khai) là khu dân cư. Như vậy,kiến trúc sư Tài nhấn mạnh, các công trình cao tầng chỉ được xây dựng trong khu tam giác Nguyễn Huệ – Hàm Nghi – Lê Lợi (làm đối trọng với khu đô thị mới Thủ Thiêm) và dọc hai bên đường Trần Hưng Đạo.
Vương Linh – Hội Liên Hiệp Phụ Nữ TP. Hồ Chí Minh – Số 35 – 1996

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *