Lời kinh “qua đi…” và những cuộc đời ở lại…

Bụi hồng (lấy ý từ câu kinh Phạn “gate, gate, paragate – qua đi, qua đi, qua đi mãi mãi) được thể hiện dưới dạng hồi ức của sư bà Diệu Thuần, đan xen giữa hiện tại và quá khứ. Thông qua câu chuyện của ba chị em, các tác giả đã khái quát được một hiện thực khá phổ biến của xã hội miền Nam trong gần nửa thập niên qua. Bộ phim đã không chỉ đề cập đến số phận riêng biệt của họ – sự khác nhau đã đủ tạo nên tính hấp dẫn – mà thông qua họ, tái hiện một giai đoạn lịch sử của đất nước.
Ngoài những cảnh dựng công phu, tạo được hiệu quả ở những trường đoạn thể hiện việc đấu tranh xuống đường của giới tăng ni và đồng bào Phật tử miền Nam chống Mỹ và chống chế độc tài, cách diễn đạt bằng ngôn ngữ điện ảnh tâm lý cũng như những biến chuyển trong đời sống của ba chị em sư bà Diệu Thuần, trong một thời gian suố 40 năm, đã thực sự đem lại xúc động cho người xem. Họ là những con người sống rất bản lĩnh, luôn trung thực với chính mình, song cũng không thể thoát ra ngoài những tác động của thời cuộc. Họ cùng có chung những khát vọng hướng thiện, nhưng hoàn cảnh đã xô đẩy họ có những cảnh sống khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Và, tưởng như cuộc đời của ba chị em hoàn toàn tách biêt, nhưng lại luôn luôn liên quan đến nhau. Người em út không thể được tự do chọn tương laic ho mình, buộc phải vào lính chỉ vì có anh đi tập kết, có chị là nữ tu trong tôn giáo đang chống chế độ. Người anh ở miền Bắc, cũng không thể hoàn toàn an tâm thăng tiến khi có em là sĩ quan trong quân lực đối phương. Và ngay khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, cơ hội tưởng đã có thể hòa giải được cả ba cuộc đời, thì dường như tất cả đều quá muộn để có thể bắt đầu lại. Thời gian đã ngả màu trên tóc họ, hơn nữa, đã hằn trong phần số của họ một cách nghĩ, một cách sống, và cả một lòng tự rọng để khó ai chịu nhường bước trước ai. Mỗi người đều chịu trách nhiệm về chính cuộc đời mình. Nhìn về quá khứ, họ tâm niệm như lời kinh dạy: qua đi, qua đi và qua đi mãi mãi…
Bụi hồng lấy bối cảnh toàn bộ ở Huế, những con người của Huế, các sự kiện ở Huế, và vì thế phim được lồng tiếng Huế. Và chất Huế đã phủ trùm lên bộ phim từ hình thức đến thế giới nội tại, được thể hiện khá sắc sảo qua ngôn ngữ điện ảnh, với sự nhẫn nhục của những con người, với sự trầm mặc, tĩnh lặng của không gian. Tất cả đã đưa bộ phim đạt tới sự hòa quyện chặt chẽ giữa hình ảnh và ý tưởng.
Dù biết rằng, Phương Dung là một diễn viên luôn thành công ở những nhân vật “đặc biệt” đòi hỏi tài năng và sự cống hiến cao trong các phim của Hồ Quang Minh trước đây như: Nga – vợ người lính ngụy trong phim con thú tật nguyền (1985) hay Vixna – người phụ nữ trí thức nạn nhân của Pôn Pốt trong trang giấy trắng (1991), song vẫn không thể không khâ phục cô trong vai sư bà Diệu Thuần ở bụi hồng. Ngoài việc vào ở chùa một thời gian dài và cạo trọc đầu để nhập vai, Phương Dung lần nữa đã chứng tỏ khả năng diễn xuất tinh tế và sức sống nội tâm dồi dào của mình. Cô thực sự là một diễn viên đầy sức sáng tạo, không những biết sẵn sang dấn thân cho nghệ thuật, mà còn biết để cái đẹp của nhân vật phủ trùm lên “cái tôi” của riêng mình. Vì vậy, nhân của Phương Dung bao giờ cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công và tính hấp dẫn cho bộ phim. Bên cạnh Phương Dung là diễn viên Lê Tuấn Anh thật lạ và thật thuyết phục trong vai Sơn là Hoàng Phúc với nhân vật Quang, thêm một vai đáng kể sau vai Trần Trung Thế trong phim về trong sương mù. Sau trang giấy trắng, hình ảnh trong phim bụi hồng cũng khẳng định thêm tài năng của nhà quay phim lão thành Lê Đình Ấn, nhất là trong những cảnh quay đêm.
Lần nữa, bụi hồng lại chứng minh tài năng và sự lao động nghiêm túc của đạo diễn Hồ Quang Minh. Cùng với con thú tật nguyền và trang giấy trắng, bụi hồng đã cho thấy anh luôn đi tìm cái thực trong những con người luôn phải vật vã với cuộc sống bên ngoài. Và lần nữa, bụi hồng đã không chỉ là một bộ phim để xem chơi.
Cát Vũ – Phụ Nữ – Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Tp.Hồ Chí Minh – số 19 – 1996

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *