Đổi mới – phụ nữ được và mất gì – Phần 2

Trong khi ấy, các xí nghiệp mới thành lập của nhà nước và tư nhân lại sử dụng công nghệ mới nên thu hút ít lao động nữ vì tay nghề còn yếu và giới chủ lại ngại phải thực hiện chính sách xã hội đối với lao động nữ như chế độ nghỉ thai sản, sinh đẻ, con ốm, bảo hiểm y tế…
Bước vào giai đoạn cải cách kinh tế, việc thực hiện chính sách xã hội đối với phụ nữ đã có nhiều thay đổi khác trước nhưng theo chiều hướng giảm đi ; điều này trước hết do các chính sách nhà nước không còn được bao cấp như trước nữa. Một ví dụ điển hình là việc “sửa lại” nghị định 176A/HĐBT, trong đó vốn quy định nghỉ đẻ 6 tháng đã rút xuống nay chỉ còn 4 tháng.
Tại các xí nghiệp, điều kiện vệ sinh lao động nữ không còn được như trước ; các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động… bị vi phạm nhiều. Hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, trạm y tế, bệnh xã, cũng đã giải thể ở nhiều nơi.
Nếu xét về mặt số lượng, Việt Nam gần đạt được sự bình đẳng về giới trong số học sinh tiểu học, số người lớn biết đọc biết viết, khả năng tiếp cận với y tế và sự tham gia vào lực lượng lao động. Song, hiện nay đã có những dấu hiệu cho thấy thành tích của chúng ta về bình đẳng giới đang bị xói mòn. Phụ nữ và trẻ em gái phải làm việc nhiều hơn, đặc biệt ở vùng nông thôn. Khối lượng công việc đã hạn chế cơ hội giải trí, giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái. Ngay trong giáo dục ở nông thôn – một lĩnh vực quan trọng đối với bình đẳng, nâng cao địa vị và đạt công bằng xã hội cho phụ nữ cũng như cho thấy chỗ của các em gái là ở nhà nhiều hơn để giúp đỡ công việc đồng áng, chăn nuôi, nội trợ, chứ không phải là ở trường học.
Nền kinh tế thị trường hối hả đã thúc bách người phụ nữ phải lao động nhiều hơn để tăng thu nhập gia đình ; người phụ nữ suy giảm sức khỏe, trẻ em gái bỏ học tăng lên là điều hiển nhiên.
Cuộc chạy đua này còn là một nguyên nhân khiến nhiều gia đình chạy theo thu nhập, đề cao quá mức giá trị đồng tiền, ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con cái ; sự gia tăng trẻ em hư hỏng thuộc về trách nhiệm rất lớn của gia đình.
Đổi mới đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam ; bởi vì song song với mục tiêu tăng trưởng phải là sự cân bằng với sự phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm – đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em gái là những người ươm mầm cho thế hệ tương lai. Sự cân bằng và hài hoà này đòi hỏi phải xác định những vấn đề giới trong quá trình lập kế hoạch là có ý nghĩa quyết định đối với việc đảm bảo vai trò bình đẳng của phụ nữ trong quá trình đóng góp và tham gia vào tiến trình phát triển.
Bởi vậy, với những thành tựu to lớn do cải cách kinh tế mang lại và nhà nước Việt Nam càng quyết tâm đi theo tiến trình đổi mới để đạt được mục tiêu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ; thì Đảng và Nhà nước ta thông qua các chính sách, chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ phải cố gắng duy trì và thực hiện các quyền và lợi ích đã trao cho phụ nữ, cũng như giảm thiểu những căng thẳng mà những biện pháp cải cách có thể gây ra cho đời sống và địa vị của phụ nữ.
Tăng trưởng là vì con người với việc đảm bảo và phát triển của chính sách xã hội, phúc lợi tập thể phục vụ con người.
Năm 1998, Nhà nước sẽ tiến hành các biện pháp nhằm xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, đào tạo. Đây là việc làm cần thiết, vì trong nền kinh tế còn nhiều khó khăn, nếu chỉ trông chờ vào người dân còn nghèo, nhà nước cần phải cân nhắc hợp lý giữa ngân sách với mức huy động đóng góp của dân, tránh quá sức dân sẽ xảy ra những điều “lợi bất cập hại”.
Từ nay đến năm 2000 – Phụ nữ sẽ tăng “được”, giảm “mất” hay ngược lại ? – Điều đó đang phụ thuộc rất nhiều vào việc lồng ghép được vấn đề bình đẳng giới vào những chiến lược đổi mới và những chương trình quốc gia của những cơ quan hoạch định chính sách từ Trung ương đến địa phương và đưa được những chính sách đó vào thực hiện trong cuộc sống.
Trần Đan Thi – Thế Giới Phụ Nữ – Phụ Nữ Việt Nam – Số 39 (10/3/1998)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *