Đổi mới – phụ nữ được và mất gì – Phần 1

Trong 10 năm qua, Việt Nam tiến hành đổi mới nền kinh tế từ bao cấp chuyển sang hạch toán theo cơ chế thị trường, đã đem lại cho đất nước những biến chuyển to lớn về kinh tế – xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua luôn ở mức cao từ 9 – 9,5% ; đời sống nhân dân được cải thiện, nạn khan hiếm hàng hóa chấm dứt, thời kỳ tem phiếu lùi vào dĩ vãng… Cuộc sống nói chung có thể nói là dễ chịu hơn trước nhiều điều.
Cơ chế thị trường đã tạo cho nền kinh tế sự cạnh tranh, thành một động lực cho phát triển kinh tế – xã hội ; trong đó khuyến khích mọi người làm việc theo năng lực và hưởng thụ theo hiệu quả công việc. Trong nền kinh tế thị trường, phụ nữ Việt Nam đã nhận được nhiều cái “được”.
Trước hết, cơ chế mới đã mở ra những điều kiện thuận lợi hơn cho người lao động nữ chủ động tìm kiếm việc làm và tăng khả năng tiếp cận với thị trường lao động. Nền kinh tế 5 thành phần trong đó có kinh tế tư nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, khuyến khích đã làm phát triển nhiều ngành nghề đa dạng ; đặc biệt với tính chịu thương, chịu khó, không nề hà bất cứ công việc gì miễn là được lao động, có thu nhập nuôi gia đình, đã thu hút được nhiều lao động nữ làm việc, khiến cuộc sống và thu nhập của nhiều gia đình đã tăng lên.
Những đổi mới trong chính sách quản lý nông, lâm nghiệp, coi hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao ruộng đất sử dụng lâu dài cho nông dân, đã tạo điều kiện cho người nông dân, đặc biệt là phụ nữ phát huy phẩm chất lao động cần cù, tận tụy và tính năng động sáng tạo. Vị trí kinh tế hộ gia đình được nâng lên đã giúp phụ nữ có điều kiện hoạt động phát triển thêm một số ngành nghề thích hợp với phụ nữ, nâng cao mức sống ! Cơ hội việc làm đã tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế – năm 1994, cả nước đã tạo ra được 1,2 triệu chỗ làm mới và đến nay bình quân mỗi năm tạo được việc làm cho 1 triệu lao động ; góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước từ 8-9% năm 1990 xuống còn 5,7% năm 1997. Mười năm đổi mới, tuy có nhiều biến động về việc làm của phụ nữ, nhưng phụ nữ vẫn chiếm 52% tổng số lao động của cả nước ; cơ cấu giới hầu như không thay đổi trong các ngành chủ yếu như Thương mại, Công nghiệp nhẹ, Y tế, Giáo dục.
Trong cơ chế mới đã xuất hiện những phụ nữ quản lý doanh nghiệp giỏi, nhạy bén và năng động ; đặc biệt phụ nữ lại không ăn nhậu, chơi bời như nam giới mà lại cẩn thận, chu đáo, tiết kiệm, quán xuyến cho hoạt động của doanh nghiệp mình phát triển.
Cũng trong quá trình đổi mới, có thể nói vai trò ngày một tăng của phụ nữ trong lĩnh vực ra quyết định và lãnh đạo là một việc làm quan trọng nhất mà Đảng và Nhà nước đã tiến hành để cải thiện địa vị của phụ nữ. Từ nhận thức cho đến chỉ đạo thực hiện của Đảng và Nhà nước đã cho thấy địa vị của phụ nữ Việt Nam ngày một cải thiện. Một ví dụ : Năm 1985 chỉ có 5 người tổng đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị phụ nữ thế giới ở Nairobi ; năm 1995 đã có hơn 150 đại biểu nữ và nam giới tham dự Hội nghị phụ nữ thế giới ở Bắc Kinh. Cũng trong năm 1997, đại biểu quốc hội là nữ đã đạt tỷ lệ 26,22%…
Một ưu điểm rõ ràng là Việt Nam đã có pháp luật tiến bộ và ban hành sớm khẳng định quyền bình đẳng nam nữ và được cụ thể hóa như hiến pháp năm 1992 và Bộ luật lao động năm 1995.
Cải cách kinh tế – Đổi mới đã mang lại những thay đổi to lớn về kinh tế và xã hội ; Song cũng đã xuất hiện hàng loạt vấn đề về phụ nữ nổi lên do chính những thay đổi đó.
Do thay đổi cơ chế quản lý và sắp xếp lại lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước, nhiều phụ nữ đã phải ra khỏi dây chuyền sản xuất vì trình độ tay nghề, năng lực, sức khỏe hạn chế do gánh nặng gia đình, nuôi dạy con cái trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Có khoảng 80 vạn lao động phải nghỉ việc, trong đó nữ chiếm trên 60%.
Trần Đan Thi – Thế Giới Phụ Nữ – Phụ Nữ Việt Nam – Số 39 (10/3/1998)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *